Cách nhận biết và biện pháp phòng tránh một số bệnh trước khi sinh ở bò mẹ

27/11/2019 09:16

1. Bệnh bại liệt trước khi đẻ
Nguyên nhân:
 Chủ yếu là do chăm sóc, nuôi dưỡng trong thời gian bò mẹ mang thai.
- Khẩu phần ăn thiếu Ca, P. hoặc cỏ trồng trên vùng đất phèn, cỏ bị nhiễm nước phèn, nước uống bị nhiễm phèn ảnh hưởng hấp thu Ca của gia súc..
- Trong thời gian mang thai, bò ít được chăn thả, ít tiếp xúc với ánh sáng mặt trời, gia súc có chửa mà quá gầy yếu cũng dễ mắc bệnh bại liệt;
- Do kế phát từ bệnh thiểu năng tuyến giáp trạng, làm thay đổi tỉ lệ Ca/P (Ca tăng, P giảm);
- Do phải rút Ca, P từ cơ thể để phát triển bộ xương của bào thai do thức ăn không cung cấp đủ;
- Do bị chèn ép dây thần kinh vùng hông khum;
- Do quá trình bệnh lý ở não tủy.
Triệu chứng:
- Bò thích ăn những thứ mà ngày thường không ăn như đất, gặm nền chuồng, máng ăn;
- Thoạt đầu con vật ưa nằm, nhưng đứng dậy rất khó khăn, hai chân sau yếu, đứng cứ run run, hai chân sau hay co lên để xuống thường đi lại càng khó khăn, chân sau xiêu vẹo, sau đó không đứng được nữa dù có người đỡ. Nếu bị bại liệt kéo dài thì các cơ của chân sau bị teo, những chỗ tì xuống đất bị thối loét. Không có triệu chứng toàn thân;
- Trường hợp xảy ra đột ngột, bò đang ở trạng thái bình thường đột nhiên nằm xuống không đứng dậy được;
- Nếu bệnh nặng sẽ ảnh hưởng tới tình trạng chung của cơ thể và có thể xuất hiện một số bệnh khác như : Sa âm đạo. Khi đẻ, nếu tử cung bị xoắn thì không tống thai ra được.
Tiên lượng: Tốt, nếu con vật phát bệnh vào giai đoạn con vật sắp đẻ không quá 15 ngày thì sau khi đẻ, con vật sẽ trở lại bình thường. Nếu bệnh phát ra sớm và kéo dài thì gia súc có thể bị bại huyết mà chết do nhiều chỗ bị thối loét.
Điều trị:
Phải kịp thời bổ sung những thành phần dinh dưỡng cần thiết, đồng thời phòng những tình trạng bệnh kế phát có thể xảy ra.
- Phương pháp hộ lý:
          + Lót rơm cho bò nằm nơi yên tĩnh, thường xuyên trở mình, có thể dùng đai dây to bản để treo đỡ  bò đứng. Nếu gia súc đứng được, mỗi ngày nên nâng nó lên 1-2 lần
+ Cho bò ăn thức ăn có nhiều chất dinh dưỡng, dễ tiêu, có đủ chất khoáng và vitamine.
- Dùng thuốc: Gluconate calci 10-20%, Calcimax tiêm tĩnh mạch 10-20ml/ lần hoặc pha chung với Glucoza 10% truyền tĩnh mạch ngày 1-2 lần. Bổ sung thức ăn tinh thêm Calci Fort Plus, B1 liều cao; có thể tiêm bắp thêm vitamine ADE, vitamine nhóm B( B1-B6-B12), thao tác làm nhẹ nhàng để hạn chế bò giãy giụa.
- Chú ý: Một số thuốc không nên sử dụng như Strychine, Dexa (Dexa tích nước và rút Calci nhanh hơn khiến bệnh càng trầm trọng hơn).Trường hợp cần thiết sử dụng thuốc kháng viêm thay Dexa bằng Dilorfenac 2,5% (Dilofen).
Phòng bệnh:
- Đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng thức ăn thô tinh cho từng giai đoạn mang thai, chú ý giai đoạn chửa từ tháng thứ 5 trở đi và giai đoạn nuôi con cho đến khi cai sữa. Bổ sung đá liếm, bánh dinh dưỡng, Premix khoáng Calcifort Plus thường xuyên. Tiêm ADE 1-2 tháng/lần con có nguy cơ (ốm, suy dinh dưỡng đang mang thai)
- Nguồn nước uống và thức ăn xanh không bị nhiễm phèn, ảnh hưởng sự hấp thu của Calci.
- Cho bò hàng ngày vận động, tắm nắng ban mai.
- Phát hiện sớm và điều trị kịp thời.
 
2. Bệnh rặn đẻ sớm
Một vài tuần trước thời gian đẻ bình thường đã xuất hiện những cơn co bóp tử cung làm cho bò rặn đẻ
Nguyên nhân
Có thể do nhiều nguyên nhân:
- Thành bụng bị chấn thương;
- Do làm việc quá mức khi mang thai
- Mùa đông cho vật ăn thức ăn hoặc uống nước quá lạnh
- Rối loạn quan hệ kích tố giữa tuyến yên, buồng trứng, nhau thai
- Kế phát bệnh sa âm đạo   
Triệu chứng
Xuất hiện những cơn rặn đẻ dù chưa đến kỳ đẻ. Rặn đẻ nhưng chưa có biểu hiện báo trước cho việc sinh đẻ, như vú chưa căng chưa có sữa non, âm môn chưa phù nề, chưa sụt mông.
Con vật đứng nằm không yên, chân cào đất hoặc đá vào bụng, kêu rống cong lưng, cong đuôi để rặn, cơn rặn kéo dài vài ba giờ đến vài ngày.
Rặn nhiều làm gây lộn trực tràng, âm đạo, mạch nhanh, nhịp thở sâu và mạnh.
Phòng trị
Khi thấy bò rặn đẻ quá sớm, cần xác định đó là rặn đẻ bình thường hay rặn đẻ quá yếu. Phải xác định bào thai còn sống hay chết (quan sát hoặc sờ khám qua trực tràng, tuyệt đối không khám qua âm đạo) để quyết định biện pháp can thiệp thích hợp
* Nếu thai chết, cần tìm mọi cách đưa thai ra khỏi cơ thể mẹ;
* Nếu thai còn sống, giữ cho con vật ở trạng thái yên tĩnh, không cho vận động, tránh những kích thích mạnh. Cách ức chế hiện tượng rặn và co bóp tử cung;
+ Cố định bò ở tư thế mông cao hơn đầu (giảm áp lực xoang chậu). Tiêm Atropin 0,2mg, cho uống rượu trắng 500ml;
+ Gây tê vùng khấu đuôi bằng Novocain 3%  (10-15ml).
- Theo dõi và điều trị những biến chứng nếu có.
 
3. Bệnh xẩy thai
Là hiện tượng thai đẩy ra khỏi cơ thể mẹ (thai chết hoặc còn sống) khi chưa đến kỳ sinh đẻ.
Nguyên nhân
- Thai quá yếu, thai, nhau thai phát triển không bình thường;
- Bò mẹ bị nhiễm trùng, ăn phải các loại cỏ độc hại, độc tố qua nhau thai gây chết thai;
- Bò mẹ được điều trị bằng những thuốc có thể gây sảy thai;
- Bò mẹ sống trong môi trường không phù hợp (chế độ dinh dưỡng kém, thiếu các vitamin A, D, E làm ảnh hưởng đến trao đổi chất, dễ bị tiêu thai, chết thai). Gia súc mang thai mà bị đá hoặc húc vào bụng, bị chẹt, mật độ dày đặc làm cho gia súc có chửa bị giẫm đạp dẫn đến sẩy thai.
Phòng trị
- Lựa chọn gia súc giống không mắc các bệnh truyền nhiễm như: Sẩy thai truyền nhiễm, xoắn khuẩn, ký sinh trùng đường sinh dục;
- Thực hiện nghiêm quy trình chăn nuôi gia súc;
- Phòng ngừa những bệnh đường sinh dục khi bò cái mang thai.
 
4. Đẻ khó
Nguyên nhân
- Do cơ thể mẹ:
+ Co bóp cổ tử cung và lực rặn của bò mẹ yếu
+ Hệ thống khung chậu hẹp hoặc biến dạng, khớp bán động háng không bình thường hoặc cốt hóa. Với bò, do cấu tạo đặc biệt của xương cánh chậu, mỏm xương ngồi và khấu đuôi làm cho thai ra khó dẫn đến đẻ khó
+ Tử cung bị vặn xoắn vào cuối thời kỳ chửa
- Do thai
+ Thai quá to không phù hợp với xoang chậu và đường sinh dục
+ Chiều, hướng, tư thế thai không bình thường
Triệu chứng
Tùy trường hợp đẻ khó mà có những biểu hiện khác nhau
Phương pháp can thiệp
Tùy trường hợp cụ thể mà người đỡ đẻ đưa ra biện pháp can thiệp thích hợp, an toàn
*Các trường hợp đẻ khó
+ Rặn đẻ yếu, cổ tử cung đã mở, sức rặn đẻ của bò mẹ yếu nên không thể tống thai ra ngoài được. Có thể hỗ trợ bò mẹ kéo thai ra khi con vật rặn đẻ.
+ Kích thước giữa thai và đường sinh dục không phù hợp: Thai bình thường nhưng đường sinh sản bị hẹp, bao gồm: Hẹp xương chậu, cổ tử cung hẹp, hẹp âm đạo và âm hộ, có khối u ở đường sinh sản hoặc thai quá to. Bò mẹ rặn nhiều lần nhưng thai không ra được. Phương pháp chủ yếu là dùng sức để lôi ra. Thụt vào đường sinh sản 1 chất nhờn hoặc nước xà phòng ấm, sau đó dùng dây thừng hỗ trợ kéo thai ra. Nếu phần đầu ra trước, ngoài việc buộc dây thừng vào 2 chân trước, người đỡ chính cần phải cho ngón tay cái vào miệng thai, qua đường mép dùng ngón tay trỏ kẹp chặt lấy hàm dưới để cùng lôi đầu ra. Nếu thai ra bằng phần sau, buộc dây thừng vào 2 chân sau kéo ra. Nếu không lôi ra được thì phải quyết định cắt thai hoặc mổ bụng lấy thai.
+ Thai sinh đôi: Nếu có một tư thế thai bình thường và một tư thế thai không bình thường, xoay thai lại vị trí bình thường. Nếu 2 thai cùng lọt vào cửa xương chậu một lúc với độ sâu khác nhau nên bị kẹt và gây ra khó đẻ. Cần xác định phân biệt rõ từng thai (đẻ sinh đôi thông thường thì một thai đầu ra trước, một thai hai chân sau ra trước, nên khi kiểm tra sẽ có 1 đầu và 4 chân), đẩy lùi một thai ra khỏi xương chậu, sau đó lôi từng thai ra.
+ Tư thế của thai không bình thường: Phía đầu ra trước: Đầu cổ ngoẹo về một bên, đầu gập xuống dưới, đầu ngửa ra sau, đầu gối ra trước, vai ra trước; phía sau ra trước: khoeo chân ra trước, mông ra trước, lưng ra trước. Cần đưa thai về vị trí bình thường, có thể hỗ trợ hoặc không hỗ trợ kéo thai ra.




+ Vị trí thai không bình thường: Đầu ra trước, thai nằm nghiêng; đuôi ra trước thai nằm ngửa hoặc nghiêng. Cần đưa thai về vị trí bình thường sau đó kéo nhẹ thai ra theo cơn rặn của bò mẹ
+ Hướng thai không bình thường: Bụng ra trước, thai thẳng đứng, lưng ra trước; thai nằm ngang, bụng ra trước. Đưa thai về tư thế bình thường và kéo thai ra.

Những vấn đề cần chú ý
+ Can thiệp sớm và kịp thời khi đẻ khó là rất quan trọng. Nếu can thiệp chậm để thai lọt vào hố chậu, thành tử cung bọc chặt lấy thai, nước thai chảy hết, đường sinh dục đã thủy thủng thì dễ gây trở ngại cho việc đẩy thai vào, xoay thai và kéo thai ra.
+ Người đỡ đẻ chính phải bình tĩnh, khéo léo và kiên nhẫn vì thao tác phải chính xác. Người đỡ đẻ nên có sẵn người giúp việc để thay khi mệt và hỗ trợ trong quá trình đỡ đẻ.
+ Trong khi đẩy lùi thai, xoay nắn và lôi thai ra, nếu nước thai đã thoát hết, đường sinh dục bị khô thì phải thụt vào âm đạo và tử cung vài lít nước xà phòng ấm đã tiệt trùng để bôi trơn đường sinh dục.
+ Bất cứ bộ phận nào của thai ở tư thế không bình thường đều phải xoay nắn lại cho đúng vị trí trước khi lôi thai ra. Xoay thai, lôi thai ra theo cơn rặn của bò mẹ.
+ Ưu tiên việc cứu cả mẹ và thai, nếu các biện pháp xoay thai và kéo thai không hiệu quả, thì tùy vào thai còn sống hay đã chết, cắt thai và mổ bụng lấy thai là biện pháp cuối cùng.
 
 
 
 
 
 
 
 
 

Quảng cáo